Hiển thị các bài đăng có nhãn Quy luật Cuộc sống. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Quy luật Cuộc sống. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 2 tháng 3, 2014

Kế hoạch không bao giờ dối trá

Xưa có câu rằng: "Chuyện anh làm kêu to đến nỗi tôi không nghe được anh nói."

Bạn bảo rằng giá trị cốt lõi bạn đưa lên hàng đầu đó chính là gia đình, nhưng thời gian bạn dành cho gia đình không chiếm nhiều trong kế hoạch của bạn, thì sự thật gia đình bạn chằng phải là một ưu tiên hàng đầu. Bạn bảo rằng sức khoẻ cũng là giá trị hàng đầu, nhưng tôi không thấy bạn lên kế hoạch cho năm hay sáu buổi tập mỗi tuần, vậy thực tế là sức khoẻ hoàn toàn không phải quan trọng như bạn tuyên bố. Bạn tranh luận rằng, phát triển bản thân chính là một trong những điều cốt yếu để bạn theo đuổi, bởi vì càng giỏi càng hiệu quả. Hãy cho tôi xem kế hoạch và tôi sẽ biết sự thật. Bởi vì kế hoạch không bao giờ dối trá.

Sẽ không bào giờ có thành công đích thực và hạnh phúc lâu dài nếu công việc hàng ngày lại không song hành với những giá trị sâu xa nhất của bạn. Ý tưởng này rất hữu ích cho rất nhiều nhà điều hành từng được tôi hướng dẫn (Tôi ở đây là Robin Sharma - một trong những chuyên gia hàng đầu thế giới về nghệ thuật lãnh đạo và phát triển bản thân, với triết lý cốt lõi là lãnh đạo không cần chức danh và thoải mái phát huy cao nhất năng lực của mình).
Nếu còn khoảng cách giữa điều mình làm và con người thật của mình, thì bạn không còn liêm chính nữa. Đó là lỗ hổng liêm chính. Vết nứt giữa sự tận tâm hàng ngày với những giá trị sâu xa càng lớn, cuộc sống càng tẻ nhạt (bạn càng ít cảm thấy hạnh phúc). Tại sao vậy? Bởi vì bạn không làm những gì mình nói. Giống như hình chẳng khớp với tiếng trong một cuốn băng video. Bạn sẽ sai lầm khi phản bội chính mình. Đó là một sai lầm tồi tệ nhất. Và lương tâm - nhân chứng sống trong vùng sâu thẳm nhất - sẽ thấy hết. 

Kế hoạch là thước đo điều bạn thực sự trân trọng và tin tưởng nó đáng quý như thế nào.

Quá nhiều người nói rất hay. Nhưng lời nói gió bay. Hãy nói ít làm nhiều. Hãy cho tôi thấy kế hoạch của bạn, tôi sẽ nói ưu tiên hàng đầu của bạn là gì. Nhân chứng tại tìa cứ nói những gì họ muốn. Nhưng chứng cứ thì không bao giờ gian dối.


Trích The Greatness Guide, Robin Sharma - một trong những chuyên gia hàng đầu thế giới về nghệ thuật lãnh đạo và phát triển bản thân, với triết lý cốt lõi là lãnh đạo không cần chức danh và thoải mái phát huy cao nhất năng lực của mình.

Thứ Bảy, 1 tháng 3, 2014

Mẹ TERESA

Trong số những con người kiệt xuất có rất nhiều người cùng ngày sinh nhật với tôi.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một tấm gương lớn nhất về tinh thần TỰ HỌC.
Và đặc biệt có một người phụ nữ ảnh hưởng rất lớn đến cuộc đời tôi: 
Mẹ TERESA

Có một câu nói của mẹ tôi lấy làm quan điểm sống, cách sống mỗi ngày:
Mới đây tôi có đọc được một bài viết rất ý nghĩa về mẹ xin được trích lại để các bạn cùng tìm hiểu:

"Tôi gặp một phụ nữ bị bệnh đang nằm chờ chết bên đường. Một nửa thân thể của bà bị chuột rỉa và phần thân thể còn lại thì bị kiến bu đen nghịt. Tôi đem bà vào bệnh viện nhưng họ không nhận vì chẳng còn cách nào chữa trị được. Tôi nhất định không chịu ra về nếu họ không săn sóc cho người đàn bà bất hạnh kia. Cuối cùng thì họ chịu tạm thời lo lắng cho bệnh nhân của tôi.
Để người đàn bà ở đó, tôi đi đến trụ sở thị xã để kiếm một nơi có thể đem bà đó về. May thay có người chỉ cho tôi một căn phòng trống trong ngôi chùa Ấn Độ Giáo bỏ hoang. Căn phòng đó sau nầy trở nên Căn Nhà Cho Những Người Đang Chết. Tôi cầm tay và ngồi lại với người phụ nữ kia cho đến khi bà ta trút hơi thở cuối cùng”.

Đó là một câu chuyện trong hàng ngàn câu chuyện mà Mẹ Teresa kể lại và đó cũng là một ngày trong suốt 50 năm mà Mẹ đã hiến dâng cho nhân loại khổ đau của thế gian nầy. Cô bé Agnes Gonxha Bojaxhiu cất tiếng khóc chào đời ngày 26 tháng 8 năm 1910 tại Macedonia thuộc xứ Albany. Cả gia đình theo đạo Thiên Chúa mặc dù đa số dân Albany theo Hồi Giáo và xứ sở nầy đang chịu sự bảo hộ của Đế Quốc Hồi Giáo Thổ Nhĩ Kỳ. Cha của Gonxha là một thương gia, có vẻ thích chuyện chính trị và thường vắng nhà vì công việc làm ăn xa. Năm Gonxha vừa lên 9 tuổi thì cha mất. Mẹ của Gonxha phải tần tảo để nuôi ba người con, tất cả đều trong tuổi còn thơ ấu. Cả gia đình đều ngoan đạo, ba mẹ con cùng cầu nguyện mỗi đêm và đi nhà thờ mỗi ngày. Trái tim của Gonxha, dù còn thơ ấu, đã sớm nhịp chung theo từng nỗi khổ đau của lớp người cùng khổ. Nhà của ba mẹ con ở vốn cũng đã nghèo nhưng nếu có ai cần gì gõ cửa thì Gonxha cho hết những gì mình có. Gonxha thường theo mẹ đi giúp đỡ một người đàn bà góa bị bịnh ghiền rượu trong làng, tắm rửa và lo cho con cái bà ta ăn uống. Khi bà góa phu chết để lại sáu đứa con thơ, mẹ con Gonxha lại tiếp tục lo lắng cho chúng như trong một gia đình.

Đến tuổi 12, cô gái Agnes Gonxha Bojaxhiu đã có ý nguyện hiến dâng cuộc đời để phục vụ ước muốn của Chúa. Gonxha cầu nguyện rất nhiều, mãi đến khi cô Gonxha lên 18 tuổi thì lời cầu nguyện được thành sự thật. Một buổi chiều năm 1928, sau khi đế nhà thờ Đức Mẹ cầu nguyện, Gonxha gạt nước mắt từ giã mẹ và hai chị lên đường đi về phương đông xa xôi, nơi khổ đau đang chờ đợi bàn tay và trái tim của cô. Gonxha tạm thời dừng lại ở Dublin để làm thủ tục tại cơ sở chính của dòng tu Loreto Sisters. Tại đây Gonxha học tiếng Anh và làm quen với đời sống tôn giáo. Cô nhận y phục của một nữ tu và chính thức chọn tên cho mình là Teresa để tưởng nhớ đến Thánh Teresa của Lisieux. Tháng 12 năm 1928, Sơ Teresa cùng một nhóm nữ tu lên đường đi Ấn Độ, một xứ sở mà Sơ Teresa hằng mơ ước. Đầu năm 1929, đoàn nữ tu đến Columbo, rồi Madras và cuối cùng là Calcutta.
Đoàn nữ tu tiếp tục chuyến đi về phía Darjeeling, dưới chân rặng Hy Mã Lạp Sơn, ở đó các sơ trẻ sẽ được bắt đầu huấn luyện hai năm trước khi thực hiện Lời Hứa thứ nhất. Hoàn cảnh sống của dân chúng Ấn Độ đã làm trái tim của Sơ trẻ Teresa thắt lại. Bao nhiêu người đói khát, bệnh tật đang thoi thóp chờ chết trên cùng khắp mọi nơi trên vùng đất Bengaly nghèo nàn và bất hạnh. Sơ Teresa đi Calcutta để theo học ngành sư phạm và không lâu sau đó đã trở nên một cô giáo trong trường cấp hai. Lòng bác ái của Sơ Terera đã chinh phục tâm hồn đang khao khát tình thương của học trò một cách dễ dàng. Sơ Teresa không chỉ dạy học sinh học chữ mà còn dạy thương yêu và dâng hiến tình yêu. Ngày 24 tháng 5 năm 1937, Sơ Teresa thực hiện Lời Hứa cuối cùng tại Darjeeling. Ngoài nhiệm vụ dạy học, Sơ Teresa dành thời gian để giúp đỡ những người nghèo khổ. Sơ Teresa đi thăm viếng bịnh viện, thăm viếng những khu dân nghèo, những khu thường được gọi một cách khinh bỉ là khu ổ chuột.
Cuộc sống bi thảm của dân chúng đã làm sống dậy mãnh liệt trong lòng Sơ Teresa ước muốn “sống giữa sự khổ đau của nhân loại” mà Sơ từng ôm ấp từ những ngày còn ở quê hương Macedonia. Với tất cả dự tính trong đầu, Sơ Teresa rời trường học để về lại Darjeeling vào ngày 10 tháng 9. Như Sơ đã nhắc lại sau nầy “đây là chuyến đi quan trọng nhất trong cuộc đời tôi”. Ngày 10 tháng 9 sau nầy được dòng tu của Mẹ Teresa gọi là “Ngày Ước Vọng”. Sơ Teresa cố gắng thỉnh nguyện Đức Ông Perier, Tổng Giám Mục Calcutta để cho phép Sơ được rời khỏi dòng tu Loreto Sisters để trở thành một nữ tu độc lập. Tuy nhiên lời thỉnh cầu của Sơ đã bị từ chối.

Một năm sau, Sơ Teresa lại lần nữa đệ đạt lời thỉnh cầu của mình. Lần nầy, Đức Tổng Giám Mục đồng ý nhưng chỉ thị Sơ Teresa phải đệ trình đơn thỉnh nguyện lên Tòa Thánh.
Mãi đến tháng 8 năm 1948, Sơ Teresa mới nhận được sự chấp thuận của Tòa Thánh cho phép Sơ được rời khỏi dòng tu Loretto với một điều kiện rằng Sơ phải giữ lời hứa phục vụ người nghèo, tinh khiết và tuân phục. Ngay sau đó, Sơ Teresa, 38 tuổi, từ giã chiếc áo nữ tu Loretto và thay vào đó chiếc áo vải thô, trị giá chỉ 1 đồng tiền Ấn Độ, với viền xanh nhạt. Sơ Teresa trở nên một công dân Ấn Độ và cuộc hành hương vào giữa nỗi khổ đau của nhân loại thực sự bắt đầu.
Sau khi học một khóa huấn luyện kỹ càng về làm thế nào để sống và săn sóc người nghèo và bịnh tật, Sơ Teresa trở lại Calcutta, đi vào các khu ổ chuột và giúp đỡ dân chúng cùng khổ ở đó. Hằng ngày Sơ Teresa tắm cho các em bé, lau chùi các vết thương của bệnh nhân. Phương tiện duy nhất của Sơ là đôi bàn tay, một cục xà phòng nhỏ và vài chiếc khăn. Bất cứ khi nào có thể, Sơ Teresa cũng không quên dạy họ học chữ. Sơ một mình âm thầm làm việc như thế trước sự ngạc nhiên của mọi người trong làng. Họ tự hỏi “Người đàn bà Châu Âu trong bộ đồ vải trắng đó là ai ?” Đối với trẻ em nghèo, họ bắt đầu gọi Sơ là Mẹ Teresa. Đối với Mẹ Teresa, Chúa là chỗ dựa tinh thần duy nhất mà thôi.

Một ngày nọ có một cô học trò cũ, con nhà giàu tìm đến và xin ở lại với Mẹ. Mặc dù đây là phút giây cảm động nhưng Mẹ Teresa một mực từ chối. Mẹ kể cho cô gái nghe về đời sống và công việc làm hằng ngày của Mẹ, trong đó bao gồm việc tắm rửa cho bệnh nhân, lau chùi các vết thương, vết lở đầy máu mủ. Cô gái ra về.

Ngày 19 tháng 3 năm 1949, cô gái đó trở lại, không một chút phấn son và không một món trang sức nào trên người. Ước muốn của cô đã được Mẹ Teresa chấp nhận. Mẹ Teresa dùng tên cũ của mình để đặt cho tên cho cô gái: Agnes. Và cứ thế, tháng 5 có thêm ba người gia nhập và sang năm sau thì có thêm 7 người. Hội của những nữ tu Bác Ái với 12 nữ tu đầu tiên được thành lập và được Đức Giáo Hoàng chấp thuận vào ngày 7 tháng 10 năm 1950.

Nguyên tắc căn bản của dòng tu là hiến dâng chính mình để phục vụ người nghèo trong tình yêu của Chúa. Mẹ cũng đã mua lại căn nhà cũ của một người Pakistan để làm trụ sở đầu tiên. Căn nhà sau đó đã được gọi là Căn Nhà Của Mẹ. Từ điểm khởi hành đó, hàng trăm người từ khắp nơi trên thế giới đổ về hàng năm để cùng với Mẹ Teresa dâng hiến đời mình để xoa dịu nỗi khổ đau của nhân loại.

Vào khoảng giữa thập niên 1950, Mẹ Teresa tập trung nỗ lực vào việc giúp đỡ bệnh nhân cùi. Chính phủ Ấn cung cấp cho Mẹ khoảng đất rộng 34 mẫu để thành lập Trại Cùi, trại nầy được Mẹ đặt tên là Shanti Nagar (Làng Thanh Bình).

Để tỏ lòng biết ơn và tôn kính, chính phủ Ấn đã trao tặng Mẹ Teresa giải Padmashree và 1965 Đức Giáo Hoàng Paul VI đã đặt Dòng Tu Bác Ái trực tiếp dưới sự kiểm soát của tòa thánh. Đức Giáo Hoàng cũng đề nghị Mẹ Teresa mở rộng dòng tu sang các quốc gia khác ngoài Ấn Độ. Năm 1971, Đức Giáo Hoàng Paul VI tặng Mẹ Teresa giải Hòa Bình Giáo Hoàng John XXIII cao quý. Năm sau, chính phủ Ấn Độ trao tặng Mẹ Teresa giải thưởng quan trọng: Jawaharlal Nehru. Năm 1979, Mẹ Teresa được trao tặng giải Nobel Hòa Bình, giải thưởng quốc tế được kính trọng nhất.

Dù nhận bao nhiêu huân chương và giải thưởng, Mẹ Teresa cho đến cuối đời vẫn một chiếc áo vải thô trắng viền xanh đơn giản mà Mẹ đã mua với giá 1 đồng và tấm lòng thương người bao la như nước sông Hằng cuồn cuộn.

Mẹ Teresa có lần dạy một bài học về tình yêu đầy ý nghĩa: “Người nghèo không cần chúng ta thương hại, họ cần tình yêu và thông cảm. Họ cho chúng ta nhiều hơn là chúng ta cho họ. Trong thời gian khó khăn của Ấn Độ, chúng tôi yêu cầu một số người tình nguyện từ khắp nơi đến giúp. Nhiều ngàn người đã đến và khi họ ra về, nhận xét chung của họ là họ đã đem về nhiều hơn là đem cho. Có một lần ở Calcutta, chúng tôi nhặt được 5 người đang chết, trong đó có một người phụ nữ bịnh quá nặng. Tôi muốn ngồi với bà trong giờ phút cuối cùng. Tôi đặt tay tôi lên tay của bà. Bịnh nhân tỉnh ra, nhìn tôi, không than đói, không than khát chỉ miệng cười và nói “cám ơn” trước khi nhắm mắt lại từ giã cuộc đời”.

Ngày thứ Sáu 5 tháng 9 năm 1997. Mẹ Teresa được Chúa gọi về sau hơn 50 năm phục vụ những người cùng khó. Không phải chỉ dân tộc Albany hay quốc gia Ấn Độ, mà cả nhân loại mất đi một người Mẹ hiền. Ngay cả một tờ báo Hồi Giáo ở tận xứ Kasmir cũng đã viết những dòng ca ngợi Mẹ: “Mẹ Teresa chưa hề được sinh ra đời và Mẹ cũng chẳng bao giờ chết, Mẹ chỉ đến viếng thăm hành tinh của chúng ta mà thôi”.



Trần Trung Đạo (
http://www.trantrungdao.com)

Thứ Tư, 3 tháng 4, 2013

Những nghịch lý cuộc sống


Cách đây khoảng 1 năm, tôi có dịp đọc quyển sách “10 nghịch lý cuộc sống” do tác giả Kent M.Keith. Đó thật sự là một quyển sách hay và ý nghĩa. Quyển sách ấy chất chứa nhiều triết lý sống sâu xa mà nhiều người trong chúng ta, bạn và tôi,  đã từng sống nhưng không một ai trong chúng ta đã tổng hợp lại một cách súc tích và đầy đủ được như tác giả.


Kể từ khi đọc quyển sách đó, tôi đã từng ngày nỗ lực sống hết mình vì tôi hiểu, mặc cho cuộc sống đôi khi có không công bằng với chúng ta, nhưng dù sao đi nữa, chúng ta vẫn phải sống tốt.
Ở đây, tôi xin được chia sẻ với bạn một chút tâm sự của mình sau hơn một năm “sống với những nghịch lý”.
Nghịch lý thứ nhất: “Người đời thường vô lý, không biết điều và vị kỷ. Nhưng dù sao đi nữa, hãy yêu thương họ.”
Thành thật mà nói, đây là nghịch lý khó sống theo nhất vì tôi cảm thấy mình không phải là một vị thánh. Nhưng ít ra, tôi cũng luôn học cách yêu thương những người xung quanh mình bởi vì tôi tin rằng, tôi không bao giờ  có thể thoát khỏi tình yêu thương của họ. Nếu chúng ta không thể yêu thương cả thế giới, ít ra hãy bắt đầu bằng cách thật sự yêu thương những người quý mến mình, tin tưởng mình và ủng hộ mình, bởi vì họ xứng đáng được như thế. Và đó là điều tôi đang làm. Cho nên, dù sao đi nữa, chúng ta hãy tiếp tục yêu thương.
Nghịch lý thứ hai: “Nếu bạn làm điều tốt, có thể mọi người sẽ cho là bạn làm vì tư lợi. Nhưng dù sao đi nữa, hãy làm điều tốt.”
Trong nỗ lực chia sẻ kiến thức của mình cho cộng đồng và giới trẻ, tôi thường không ngần ngại sắp xếp thời gian đi diễn thuyết ở nơi này nơi kia khi được mời, thậm chí đã có khi tôi hoãn cả chuyến bay của mình. Và nếu đơn vị mời tôi đến là trường học thì tôi lúc nào cũng đến để chia sẻ hoàn toàn vô tư. Vậy mà, vẫn có một số ít người, vì lý do nào đó nói rằng tôi “xin” diễn thuyết không lấy tiền để PR. Nhưng lạ thay, nếu tôi nhận thù lao diễn thuyết, thì cũng chính những người này sẽ nói tôi “kiếm tiền”, mặc dù trong cả hai trường hợp đều là thời gian và công sức lao động chân chính.  Tôi tin rằng bạn cũng đã có lúc bị rơi vào hoàn cảnh tương tự. Cho nên, dù sao đi nữa, chúng ta hãy tiếp tục làm điều tốt.
Nghịch lý thứ ba: “Nếu thành công, bạn sẽ gặp những người bạn giả dối và những kẻ thù thật sự. Nhưng dù sao đi nữa, hãy thành công.”
“Thành công” là một từ rất trừu tượng. Nó tùy thuộc vào định nghĩa thành công của từng người và so sánh người này “thành công hơn” người khác trong nhiều trường hợp sẽ là khá khập khiễng. Cho nên, tôi không  bao giờ dám cho mình là thành công theo định nghĩa của tất cả mọi người, nhưng nếu theo định nghĩa của riêng tôi, thì tôi đang có những thành công ban đầu. Và có lẽ chỉ vì mới là thành công ban đầu cho nên tôi chưa gặp phải những người bạn giả dối, nhưng tôi gặp phải không ít những “kẻ thù” thật sự. Những “kẻ thù” này đặc biệt ở chỗ, họ chưa từng gặp tôi, chưa từng trò chuyện với tôi, họ chỉ đơn giản lựa chọn là kẻ thù của tôi bởi vì một lý do nào đó mà chỉ có bản thân họ mới hiểu. Cũng may, loại người này rất hiếm so với hàng trăm hàng ngàn người bạn tốt (như bạn đây) mà tôi có được. Cho nên, dù sao đi nữa, bạn hãy yên tâm mà vươn tới thành công.
Nghịch lý thứ tư: “Việc tốt bạn làm hôm nay sẽ bị lãng quên. Nhưng dù sao đi nữa, hãy làm điều tốt.”
Những việc tốt chúng ta làm, đôi khi không những bị lãng quên mà còn bị phủ nhận bởi một số người. Tôi cũng chỉ mới bắt đầu làm những công việc mà tôi tin rằng rất có ý nghĩa cho đất nước và xã hội. Lúc đầu một số người cho là lừa đảo, nhưng càng về sau, càng nhiều người gọi đó là điều kì diệu. Dĩ nhiên, vẫn có một số người tiếp tục cho đó là lừa đảo, nhưng chính nhờ họ mà tôi tin rằng, tôi và các cộng sự của mình đang làm nên những điều kì diệu. Bởi vì, nếu những việc chúng tôi làm mà người khác vừa nghe đã tin ngay thì liệu những việc đó có đáng gọi là kì diệu?
Thế nhưng, sự kì diệu sẽ không bao giờ tồn tại lâu, vì khi mọi người đã chấp nhận nó thì nó trở thành… bình thường. Vài chục năm trước, Internet là điều kì diệu, nhưng hôm nay, Internet là điều bình thường. Và những việc tôi làm cũng thế, hôm nay nó là điều kì diệu, nhưng 10 năm nữa đó là điều bình thường.
Có thể bạn cũng đang làm hoặc có dự định làm nên những điều kì diệu trong cuộc sống. Có thể sẽ có người không tin bạn, có thể sẽ có người không ủng hộ bạn, có thể rồi những điều bạn đã làm hoặc sẽ làm rốt cuộc rồi cũng bị rơi vào quên lãng, nhưng dù sao đi nữa, hãy can đảm để làm những điều kì diệu.
Nghịch lý thứ sáu: “Người có ý tưởng lớn lao có thể bị đánh gục bởi những kẻ suy tính thấp hèn. Nhưng dù sao đi nữa, hãy luôn nghĩ lớn.”
Tôi không dám tự cho rằng những việc tôi đang làm là lớn lao. Lớn lao hay không thì sẽ phải do những người công bằng như bạn đánh giá. Nhưng tôi tin rằng tôi đang làm những việc có ý nghĩa cho cuộc đời mình và cho xã hội. Trên con đường đó, tôi gặp một số “đối thủ” với những chiêu bài thấp hèn. Mặc dù tôi luôn mong được hợp tác hơn là cạnh tranh, nhưng không phải ai cũng nghĩ như thế. Và thế là tôi cùng các cộng sự phải lao vào những cuộc chiến không cân sức giữa lý tưởng sống và những suy tính tầm thường để bảo vệ những triết lý sống và làm việc mà chúng tôi tin tưởng.
Tôi tin rằng, bạn cũng đã có lúc gặp phải những “đối thủ” như thế, nhưng dù sao đi nữa, hãy sống vì ước mơ của bạn.
Nghịch lý thứ tám: “Những thành quả mà bạn đã phải mất nhiều năm để tạo dựng có thể bị phá hủy chỉ trong phút chốc. Nhưng dù gì đi nữa, hãy cứ tiếp tục dựng xây.”
Là một doanh nhân, tôi đã thất bại nhiều lần trước khi có những thành quả ngày hôm nay. Ngay cả khi đạt được  thành quả rồi, mọi thứ cũng không bao giờ có thể được xem là “vững như bàn thạch” được. Chỉ cần một quyết định sai lầm thì bao nhiều mô hôi, nước mắt, công sức,… không chỉ của tôi mà còn của nhiều người  khác có thể… trôi theo dòng nước trong phút chốc. Nhưng cũng trên con đường đó, tôi và các cộng sự phát hiện ra rằng, hạnh phúc không phải nằm ở những gì mình xây dựng được, mà hạnh phúc nằm trong từng phút giây chúng ta hành động để hiện thực hóa ước mơ của mình.
Cho nên, đừng để nỗi sợ thất bại giữ chân bạn. Ai cũng có thể vấp ngã trong cuộc sống, bạn cũng thế và tôi cũng thế, nhưng thành công đơn giản là không bao giờ bỏ cuộc. Hãy đơn giản hạnh phúc để thành công bạn nhé.
Nghịch lý thứ chín: “Bạn có thể sẽ bị phản bội khi giúp đỡ người khác. Nhưng dù sao đi nữa, hãy giúp đỡ mọi người.”
“Phản bội” cũng là một từ trừu tượng mà định nghĩa của mỗi người sẽ khác nhau. Nhờ công việc của mình, tôi đã may mắn có dịp giúp đỡ rất nhiều người dưới nhiều hình thức khác nhau: các khóa học, các quyển sách, các buổi nói chuyện, giao lưu, công tác từ thiện,… Rất nhiều người trong số họ đã cảm ơn tôi và tôi cũng rất cảm ơn họ đã cho tôi cơ hội được chia sẻ với họ. Số ít còn lại… không nói gì. Và một số rất ít tìm cách phủ nhận điều đó (theo tác giả của quyển sách thì họ sợ cái “gánh nặng” phải biết ơn một ai đó).
Nhưng ngay cả khi họ làm thế, tôi cũng không coi họ đã phản bội tôi. May mắn là tôi chưa bao giờ gặp một người thật sự phản bội theo định nghĩa của tôi, cho nên, tôi vẫn luôn tin vào việc mình phải giúp đỡ mọi người.
Còn bạn thì sao? Có thể bạn từng bị phản bội bởi người mình đã giúp đỡ, nhưng dù sao đi nữa, hãy giúp đỡ người khác, vì trong cuộc sống, đa số mọi người hiểu được ý nghĩa của lòng biết ơn.
Nghịch lý thứ mười: “Bạn trao tặng cuộc sống tất cả những gì tốt đẹp nhất và nhận lại một cái tát phũ phàng. Nhưng dù sao đi nữa, hãy sống hết mình cho cuộc sống.”
Đây có lẽ là nghịch lý tổng quát nhất của tất cả những nghịch lý. Vâng, chúng ta có thể làm những điều mà chúng ta cho rằng tốt đẹp nhất và ý nghĩa nhất, nhưng rốt cuộc cái chúng ta nhận lại có thể là một cái tát phũ phàng. Nhưng đó cũng là khi chúng ta nhìn thấy được ai thật sự là bạn mình, ai thật sự yêu quý mình, ai thật sự tin tưởng mình và nhiều giá trị cao đẹp khác của cuộc sống. Cho nên, vì bản thân chúng ta cũng nhưng những con người đáng trọng ấy, chúng ta hãy sống hết mình cho cuộc sống… dù sao đi nữa…
Tác phẩm: “10 Nghịch lý Cuộc sống”
Tác phẩm nổi tiếng Anyway của tiến sĩ Kent Keith đã trở thành một cuốn sách kinh điển trên thế giới, được tất cả bạn đọc trên nhiều quốc gia yêu thích vì sự độc đáo của nó. Cuốn sách liên tục được bình chọn là một trong những tác phẩm bán chạy nhất qua nhiều thập kỷ từ khi ấn bản đầu tiên ra đời và đã được chuyển ngữ sang nhiều ngôn ngữ trên thế giới.

Điểm đặc biệt nhất của tác phẩm Anyway – 10 nghịch lý cuộc sống chính là ý nghĩa sâu xa, độc đáo và thực tế của nó đã tác động đến nhiều đối tượng độc giả khác nhau, mang lại khoảng lặng cần thiết để suy nghĩ và định hướng một cách sống cao thượng và hết mình. Bản thân tác giả – tiến sĩ Kent Keith – chính là một minh chứng cụ thể và xác thực cho cách sống trên. Ông đã viết và đã dành cả cuộc đời mình thực hiện theo những gì mình viết để ngày hôm nay, chúng ta nhìn vào ông như nhìn vào một tấm gương sáng, cùng nhìn nhận 10 nghịch lý cuộc sống của ông như là phương châm sống.
Qua cuốn sách này, tác giả muốn chia sẻ những suy nghĩ và trải nghiệm của mình về những điều mà ông đã dành hết tâm huyết để tìm hiểu – đó là hành trình đi tìm ý nghĩa của bản thân mỗi chúng ta trong cuộc sống. Bạn sẽ tìm thấy bên trong cuốn sách những phân tích rất giản dị nhưng đầy sức thuyết phục và vô cùng sâu sắc, được diễn đạt bằng ngôn ngữ của trái tim. Quan trọng hơn, nó sẽ giúp bạn nhận ra đâu là ý nghĩa thật sự của cuộc sống, và chỉ khi đó, bạn mới thấy – dù bất cứ điều gì xảy ra – cuộc đời này vẫn thật đáng sống.
Quyển sách đã được Tuổi Trẻ chuyển thành sách đọc, nếu bạn thích tải về nghe thì có thể sử dụng các liên kết bên dưới
Nguồn: TranDangKhoa.Com